Bệnh Dạ Dày

Những Bệnh Cơ Bản Về Dạ Dày

Trào ngược dạ dày thực quản

1. Bệnh trào ngược axit dạ dày lên thực quản (Trào ngược thực quản)

Bệnh nhân có một trong các dấu hiệu như: Ợ hơi, ợ nóng, ợ chua, khàn giọng, đắng miệng, buồn nôn và nôn, khó nuốt, đau và tức ngực thì bệnh nhân đã bị trào ngược thực quản. Tùy theo mức độ của dấu hiệu bệnh mà bệnh tình ở mức độ nặng nhẹ khác nhau.

Ợ hơi: Trong quá trình chuyển hóa thức ăn, hơi (khí do phản ứng hóa học phân hủy thức ăn ở dạ dày đã được sinh ra) được thoát ra ngoài qua đường hậu môn. Tuy nhiên vì nguyên nhân nào đó bị rối loạn chức năng đóng mở cơ tâm vị, khí trong dạ dày tích tụ quá nhiều sẽ bị thoát ra ngoài qua đường miệng.

Ợ nóng: Hiện tượng ợ nóng là khi dịch dạ dày trào ngược lên thực quản, axit hoặc dịch mật dạ dày tiếp xúc với niêm mạc thực quản sẽ gây ra cảm giác nóng rát.

Ợ chua: Hiện tượng ợ chua thường xảy ra vào buổi sáng khi bụng chúng ta còn đói, đặc biệt là lúc đánh răng. Cường lực co bóp của dạ dày tăng lên cao nhất khi bụng trống rỗng đẩy ngược dịch dạ dày lên cao hết chiều dài thực quản, đến khoang miệng gây cảm giác chua. Việc đánh răng cũng làm tăng kích thích co thắt, do vậy dễ gây buồn nôn. Nước vàng vị chua mà bệnh nhân nôn ra chính là acid trong dịch vị.

Khàn giọng: Acid dạ dày trào lên thực quản sẽ làm viêm tấy dây thanh quản, gây khàn giọng. Khác với khi bị cảm lạnh, đau họng hoặc ho do acid dạ dày trào ngược có thể trở chuyển thành mạn tính, lâu ngày có thể chuyển biến thành bệnh hen. Bệnh nhân nên lưu ý khi bị khàn giọng hoặc đau họng xuất hiện sau khi ăn, nếu đau hoặc khàn giọng mà không đi kèm với các triệu chứng khác như hắt hơi, sổ mũi … thì đây rất có thể là biểu hiện của chứng trào ngược dạ dày thực quản.

Đắng miệng: Cảm giác đắng miệng ở bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản là do dịch mật gây ra. Dịch mật được dự trữ trong túi mật và đổ vào tá tràng để tiêu hóa các chất béo. Ở một số bệnh nhân, vì một nguyên nhân nào đó (rối loạn thần kinh thực vật, thần kinh dạ dày, sự cố co môn vị …), sự đóng mở của lỗ môn vị (nối giữa dạ dày và tá tràng) hoạt động không bình thường, khiến một phần dịch mật bị trào ngược vào dạ dày. Khi dịch dày trào ngược lên thực quản có thể mang theo một lượng nhỏ dịch mật, khiến bệnh nhân có cảm giác đắng miệng.

Buồn nôn, nôn: Khi trào ngược dạ dày thực quản không được điều trị đúng cách, bệnh sẽ tiến triển nặng hơn, các chất trào ngược lên thực quản không chỉ là hơi, dịch tiêu hóa mà cả thức ăn – gây hiện tượng buồn nôn, nôn. Ngay cả khi bệnh chưa tiến triển nặng hơn, người bệnh cũng đã dễ nôn hơn người bình thường khi cùng chịu một tác động gây nôn giống nhau ( say tàu xe, ốm nghén…). Nếu tình trạng này diễn ra ngay sau khi ăn, khả năng bị trào ngược do acid dạ dày khá lớn.

Khó nuốt: Hiện tượng trào ngược dạ dày thực quản lặp lại nhiều lần, theo thời gian, sẽ gây ra tổn hại nhất định cho thực quản. Niêm mạc thực quản bị phù nề do tiếp xúc acid, gây hiện tượng khó nuốt (cảm giác vướng, nghẹn  sau nuốt thức ăn độ 15 giây). Niêm mạc thực quản sau khi phù nề, khi lành để lại sẹo gây chít hẹp thực quản (một trong các biến chứng của bệnh) sẽ làm tăng cảm giác khó nuốt.

Đau, tức ngực: Bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản thường có biểu hiện đau, tức ngực, cụ thể là: cảm giác đè ép, thắt ở ngực, xuyên ra lưng, cánh tay. Tuy nhiên hiện tượng này thực chất là đau thực quản chạy qua ngực. Khi acid trong dịch dạ dày trào ngược lên thực quản, acid kích thích vào đầu mút các sợi thần kinh trên bề mặt niêm mạc thực quản, gây cảm giác đau.

2. Bệnh Viêm Loét Dạ Dày – Tá Tràng

Viêm loét dạ dày là tình trạng lớp niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng (phần đầu ruột non tiếp xúc dạ dày) bị tổn thương do nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân hóa học (ăn uống), sinh học (ngủ nghỉ và tâm lý) và vật lý (vận động). Theo đó lớp niêm mạc bị tổn thương có biểu hiện phù nề, xung huyết, bị chợt hoặc xước, và tạo ổ loét…  Những hình ảnh thể hiện mức độ viêm và loét phổ biến

3. Bệnh Ung Thư Dạ Dày

Ung Thư Là Gì

Ung thư là một bệnh của các tế bào, vốn là những đơn vị cấu trúc cơ bản của cơ thể. Cơ thể chúng ta liên tục sản xuất ra các tế bào để giúp chúng ta phát triển, để thay thế những tế bào đã chết, hoặc hàn gắn lại những tế bào bị tổn thương sau một chấn thương. Các gen nào đó kiểm soát quá trình này và chính việc gây tổn hại những gen này dẫn đến các bệnh ung thư. Sự tổn hại này thường xảy ra trong cuộc đời con người, mặc dù có một số nhỏ lại thừa hưởng những gen này từ cha mẹ họ. Bình thường thì các tế bào phát triển và nhân lên theo một trình tự. Tuy nhiên, những gen đã bị tổn hại có thể phát triển không bình thường. Chúng có thể phát triển thành những khối gọi là u/bướu.

Những khối u có thể lành tính (không phải ung thư) hoặc ác tính (ung thư). Những khối u lành tính không xâm lấn vào các cơ quan và các mô của cơ thể.

Trong khi u ác tính sẽ phát triển, nó có thể giới hạn trong khu vực ban đầu. Nếu những tế bào này không được xử lý hay điều trị, chúng có thể xâm lấn ra ngoài phạm vi ban đầu và xâm lấn vào những mô xung quanh, trở thành ung thư xâm lấn.

Một số u lành tính là tiền ung thư và có thể tiến triển thành ung thư nếu không được điều trị. Nhưng đa số u lành tính không phát triển thành ung thư.

Để một bệnh ung thư phát triển to hơn đầu đinh ghim, nó sẽ phải phát triển trong chính mạch máu của nó. Đôi khi các tế bào tách khỏi khối ung thư ban đầu, xuôi theo dòng bạch huyết hoặc theo dòng máu để tới những cơ quan khác của cơ thể. Khi những tế bào này tới vùng mới, chúng có thể tiếp tục phát triển và tạo ra một khối u tại vùng đó. Cái này gọi là ung thư thứ phát hay di căn.

Ung thư dạ dày là các tế bào của dạ dày phát triển mất kiểm soát, tạo thành các khối u tại dạ dày, có thể lan ra xung quanh và các cơ quan xa hơn (di căn xa).

Ung thư dạ dày là một trong những ung thư phổ biến trên thế giới, tỷ lệ mắc đứng thứ 3 ở nam và đứng thứ 4 ở nữ. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của nam giới gấp 2 lần nữ giới.

Bệnh liên quan đến vi khuẩn HP (Helicobacter pylori), chế độ ăn uống và một số yếu tố đại lý, môi trường và di truyền.

Bệnh thường diễn biến âm thầm ở giai đoạn sớm nên người bệnh thường được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn.

4. Bệnh Sa Dạ Dày

Sa dạ dày là bệnh mạn tính xảy ra khi vị trí của dạ dày bị sa xuống, mức độ sa xuống khó xác định đối với 1 người bệnh trong thời gian ngắn. Bệnh sa dạ dày được các thí nghiệm theo dõi qua các độ tuổi khác nhau của người bệnh. Dạ dày bị sa xuống thường gây đầy bụng, đau vùng thượng vị, ảnh hưởng tới việc tiêu hóa. Sa dạ dày thường không phải là một bệnh mà nó là triệu chứng gây ra bởi nhiều bệnh lý khác nhau, thường gặp ở người bị viêm loét dạ dày – tá tràng, thiếu vitamin nên thành bụng yếu, béo do ít vận động, phụ nữ sau nhiều lần sinh đẻ.  Nguyên nhân chủ yếu là do:

  • Cơ thể suy yếu: Những người bị hư tổn khí huyết, thường xuyên mệt mỏi,… dễ bị sa dạ dày.
  • Ăn uống không điều độ: Ăn quá no, vận động quá mạnh sau khi ăn hoặc có tiền sử thường xuyên viêm loét dạ dày sẽ làm dạ dày trương lực, suy giảm chức năng của dạ dày, gây sa dạ dày.
  • Người suy nghĩ quá nhiều, tinh thần không yên, hay căng thẳng, mệt mỏi, chán ăn, ăn ít trong thời gian dài cũng làm tỳ vị hư yếu gây sa dạ dày.